Giới thiệu về dân tộc Sán Chay

Ta gần nhau thêm chút nữa nhé!

Sán Chay là một dân tộc có lẽ còn ít tốn giấy mực của các nhà nghiên cứu. Mặc dù xếp thứ 15 trong danh sách dân số 54 dân tộc. Tuy nhiên, những gì thuộc về đời sống văn hóa vật chất, tinh thần; tôn giáo tín ngưỡng của người Sán Chay lại ít được mọi người biết đến. 

Chẳng hay có bạn độc giả nào là người dân tộc thiểu số lâm phải hoàn cảnh như tôi chưa. Tôi vẫn nhớ như in biểu cảm của người đối diện khi biết tôi là người dân tộc Sán Chay. Họ thậm chí còn tỏ ra rất xa lạ. Thoạt đầu có phần khó phát âm và phải hỏi lại đôi ba lần. Đúng là có thoáng chút chạnh lòng. Song quả thực tài liệu nghiên cứu về người Sán Chay không thể theo kịp sự phong phú của người Tày, Nùng, Mường, Thái được. 

Nhưng như điều đó không đồng nghĩa với việc đời sống văn hóa của tộc người này không có gì để tìm hiểu. Ngược lại, khi càng đi sâu nghiên cứu, ta lại càng cảm thấy thú vị và đậm chất nhân văn. Cũng bởi lẽ đó mà suốt 4 năm đại học, tôi đã theo đuổi duy nhất một chủ thể để làm nghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp: Dân tộc Sán Chay. 

Giờ đây với tư cách là người con được sinh ra, lớn lên trong cái nôi văn hóa Sán Chay; tư cách là một cử nhân ngành văn hóa đã có nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu đạt giải – tôi mong muốn đem những tinh hóa văn hóa Sán Chay giới thiệu đến mọi người. Blog Sanchih2t.com là nơi tôi thực hiện điều đó. Hy vọng chúng ta sẽ hiểu và yêu thương nhau nhiều hơn. 

ve-dan-toc-san-chay

Dưới đây, tôi xin trích dẫn một số đoạn giới thiệu trong các bài nghiên cứu tôi đã thực hiện trước đó. Đôi nét về nguồn gốc, đời sống vật chất, đời sống tinh thần để các bạn độc giả thêm hiểu hơn. 

Về nguồn gốc

Người Sán Chay là quần thể nông nghiệp làm lúa nước tập trung chủ yếu ở vùng trung du Bắc Bộ. Cư trú đông nhất ở các tỉnh Thái nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Quảng Ninh, Bắc Giang… Tổ tiên của người Sán Chay xưa kia là vùng giáp ranh giữa các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam (Trung Quốc). Do những biến động về lịch sử họ đã di cư đến nước ta vào khoảng thế kỉ XVIII.

Theo bảng danh mục các thành phần dân tộc, người Sán Chay ở nước ta gồm 2 nhóm: Cao Lan và Sán Chí. Người Cao Lan nói ngôn ngữ Tày – Thái. Còn người Sán Chí nói thổ ngữ Hán, Quảng Đông. Vì thế tuy thuộc cùng một dân tộc nhưng hai nhóm này nói chuyện lại không hiểu được nhau. Các phong tục tập quán của hai nhóm cũng khác nhau nhiều. Nếu người phụ nữ Cao Lan mặc váy chàm thì người phụ nữ Sán Chí lại mặc quần.

Sự khác biệt về văn hóa, đặc biệt là ngôn ngữ giữa hai nhóm Cao Lan – Sán Chí là nguyên nhân của nhiều hội thảo, tốn nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu về việc xác định lại thành phần dân tộc của hai nhóm này. Bản thân người dân hai tộc này ở một số địa phương cũng chỉ nhận mình là Cao Lan hay Sán Chí chứ không nhận mình là người Sán Chay.

Dân số năm 2019

Người Sán Chay còn có tên gọi khác như: Hờn Ban, Chùng, Trại…  Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2019, dân tộc Sán Chay tổng số dân đứng thứ 15 trong danh sách 54 dân tộc. Gồm có 201.398 người.  

Ở tỉnh Thái Nguyên, sự phân biệt giữa 2 tộc người Cao Lan và Sán Chí không rạch ròi như ở Bắc Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Phú Thọ,… Nhiều gia đình, anh em họ hàng ruột thịt nhưng anh ở xóm trong nói tiếng Cao Lan; em ở xóm ngoài lại nói tiếng Sán Chí. Nhiều gia đình, đời ông khai là Cao Lan; đời bố khai Sán Chí, nhưng đến đời con lại là người Cao Lan.

Tuy khác nhau về tiếng nói, trang phục. Nhưng các sinh hoạt trong đời sống, nghi lễ tín ngưỡng như cúng bái, ma chay… của người Cao Lan và người Sán Chí ở Thái Nguyên lại có những nét tương đồng. Đặc biệt, các thầy cúng, dù là người Cao Lan hay người Sán Chí thì vẫn cúng bằng tiếng Sán Chí. Tình trạng này không hề xảy ra ở các tỉnh khác có người Cao Lan và Sán Chí sinh sống. 

Ông Trần Văn Ái cho rằng: “Quan điểm cho rằng cần xác định lại thành phần dân tộc của 2 nhóm Cao Lan và Sán Chí có thể xảy ra ở Bắc Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Quảng Ninh… Còn ở Thái Nguyên, 2 nhóm này có sự hòa hợp và thống nhất cao. Vì vậy, nên gọi bằng tên chung là “dân tộc Sán Chay”. Chứ không nên tách rời nhóm Sán Chí hay Cao Lan cho cộng đồng này ở Thái Nguyên”.

Vì thế, để đảm bảo tính khách quan, trong Blog này, tôi lựa chọn tên gọi chung có trong danh mục 54 dân tộc, đó là Sán Chay. 

Đời sống vật chất

Tổ chức cộng đồng của người Sán Chay ở Phú Lương gồm: xã, làng xóm, thôn bản. Ở đó thường tập trung một vài chục gia đình sống gắn bó bên nhau.

Về trang phục, hiện nay do có sự giao lưu giữa trung du và đồng bằng đã làm cho người Sán Chay ăn mặc  như người Kinh hoặc người Tày. Trang phục cổ xưa của người phụ nữ Sán Chay với chân váy cạp rút màu chàm đen. Cổ và nẹp áo may táp thêm vải với hoa văn hình thập xen lẫn màu đỏ, đen, trắng. Bên ngoài thắt dây lưng màu lục, xanh, đỏ buông thõng hai bên đầu và trước bụng. Trên đầu đội khăn vuông màu chàm đen. Người Sán Chay hầu như không đeo đồ trang sức.

Đời sống tinh thần 

Truyện cổ

Người Sán Chay nơi đây có một kho tàng truyện cổ tích; thơ ca hò vè, tục ngữ, ngạn ngữ, dân ca… Có nội dung phản ánh toàn bộ cuộc sống; lao động, sản xuất chống thiên tai, thú dữ, chống giặc ngoại xâm. Các mối quan hệ của con người với tự nhiên, xã hội; mô tả về thế giới vũ trụ nhân sinh quan; tinh thần nhân ái và đôn hậu của con người rất phong phú và đặc sắc. Biểu hiện ở kho tàng truyện cổ tích như: “Bắt thiên lôi về ăn thịt”. Câu chuyện nói về tinh thần chinh phục, chế ngự thiên nhiên; truyện “Chàng mồ côi”ca ngợi tinh thần chống áp bức bóc lột, về tình yêu nam nữ, con cái hiếu thảo với ông bà cha mẹ…

Dân ca, điệu múa

Dân ca Sán Chay là một loại hình văn hóa dân gian truyền thống. Là những đề tài đấu tranh chống thiên nhiên; lao động sản xuất, quan hệ xã hội với gia đình; thể hiện ước vọng của đồng bào trong tình yêu, chinh phục thiên nhiên; ca ngợi chính nghĩa đấu tranh chống lại cái ác nhằm có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc tươi đẹp. Những câu ví trữ tình, gửi gắm tình cảm lứa đôi trong ngày hội, chẳng hạn như:

Rau cải năm nay bao nhiêu lá
Rau cải năm nay 18 lá
Đã ra ngồng, trổ hoa…

Giai điệu hát “sình ca” giàu chất thơ, chất trữ tình như một lời nỉ non, làm sao động lòng người mà đằm thắm, thiết tha, nhất là vào những đêm trăng sáng. Những tháng năm nông nhàn, nam nữ thanh niên và những ai yêu thích ca hát có thể hát thâu đêm đến sáng. Điều đó làm cho họ càng yêu cuộc sống hơn, hăng say lao động và yêu quý bản mường. Ngoài ra điệu hát sình ca còn được hát trong đám cưới, hát ru.

Các điệu múa của người Sán Chay cũng rất phong phú. Gồm có múa trống, múa xúc tép, múa chim gâu, múa đâm cá, múa thắp đèn… Nhạc cụ gồm: Thanh la, não bạt, trống, chuông , kèn… Độc đáo nhất là trống tang bằng sành và khèn ống nứa. Đồng bào Sán Chay có các trò chơi: đánh cầu lông, đánh quay, diễn trò “trồng cây chuối”, vặn rau cải, tung còn…

Tín ngưỡng tâm linh

  • Tục thờ cúng 

Trong nhà người Sán Chay có rất nhiều bàn thờ. Ngoài thờ tổ tiên họ còn thờ trời đất, thổ công, bà mụ, thần nông, thần chăn nuôi. Phổ biến nhất là thờ Ngọc Hoàng, Phật Nam Hoa.

Người Sán Chay quan niệm ngôi nhà cũng như con trâu. Bốn cột chính tượng trưng cho bốn chân. Dùi mè là sương sườn. Nóc nhà được coi là sống lưng. Ví thế việc chọn đất, chọn hướng và chọn ngày giờ để làm nhà mới rất được người Sán Chay trú trọng.

Ngày nay, phần lớn họ ở nhà nền đất, nhà trên, nhà ngang. Nhà bếp bao quanh dân phơi, chuồng gia súc tách riêng khỏi nhà. Quanh nhà trồng nhiều cây lâu năm như quýt, bưởi… Xã hội ngày càng phát triển, dù ở nhà sàn hay nhà đất, cách bố trí nội thất đều cơ bản thống nhất. Chỗ để thờ “hương hỏa” là nơi linh thiêng nhất của mỗi gia đình. Thùng cám là nơi thờ thần chăn nuôi ở chân cột chính cạnh cửa ra vào được tượng trưng như dạ dày.

  • Nghi lễ, Lễ hội

Lễ hội cầu mùa với điệu nhảy Tắc Xình của người Sán Chay thường được diễn ra trước hoặc sau Tết Nguyên đán hàng năm. Đây là một trong những lễ hội lớn với nhiều nét văn hóa đặc trưng, độc đáo và truyền thống của đồng bào. Tắc Xình được hình thành từ tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp Sán Chay. 

Lễ hội cầu mùa phản ánh được nhiều mặt của đời sống; tôn giáo tín ngưỡng; các nghi lễ, phong tục, tập quán… Đây chính là môi trường sản sinh, lưu truyền và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Trong đó nhiều giá trị vẫn còn phù hợp và cần thiêt đối với xã hội hiện đại. Trong các lễ hội của người Sán Chay thì Cầu Mùa là lễ hội tiêu biểu nhất. Chính vì vậy vũ điệu Tắc Xình đã được công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể cấp Quốc gia theo Quyết định số 2684/QĐ-BVHTTDL ngày 25/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch./.

Mời đọc thêm: Giá trị, ý nghĩa của điệu nhảy Tắc Xình 

Bên cạnh đó cũng phải nhắc đến nghi thức khao quân của đồng bào nơi đây. Nghi thức này mang đậm văn hóa truyền thống của dân tộc. Nó là trung gian góp phần kết nối với thế giới tâm linh, làm cho đời sống của người Sán Chay phong phú và đa dạng.

Tạm kết

Trên đây chỉ là những thông tin sơ lược. Bạn đọc sẽ có cơ hội tìm hiểu thêm rất nhiều điều thú vị về người Sán Chay tại chuyên mục: https://sanchih2t.com/van-hoa-san-chay/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.